Jump to content




Photo

Doãn Quốc Sỹ


  • Please log in to reply
8 replies to this topic

#1 vietha

vietha

    Yamaha

  • Thành viên
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • 6,694 posts
  • Gender:Male
  • Location:Xứ 100 quan 6 cô

Posted 30 June 2005 - 07:54 AM

Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng



Nguyễn Văn Quảng Ngãi


MỘT THOÁNG HƯƠNG XƯA: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi.

Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậỵ

Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Gìn vàng giữ ngọc cho hay. Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân.

Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ...

Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân... đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm...

Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.

Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh:

Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung
Có ai đàn lẻ để tơ chùng
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.


Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:

Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ
Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu (Hà Nguyên Thạch)


Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu (Hoài Khanh)


Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông:
Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?

Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở:
Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông.

... Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!

Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu... Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: "Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nỗỉ".

XUÔI DÒNG THỜI GIAN: Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với... của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất - theo tôi - trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết... của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!...

Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiện-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông... đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!

Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.

Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).

Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiện-mỹ của ông... thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng Nobel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia - Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.

Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:

- Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).

- Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).

- Sao anh biết?

- Trước kia ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố... Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép này.

Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cư. Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn... nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!

Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita - Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sự...

Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mệnh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp...

Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giao. Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bày. Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: ... Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có "Tự Do", cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông...

Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái "Tâm". Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái "Tâm"...

Ba ngày tại Wichita - với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình - chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.

Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảọ Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôi. Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái "tình thầy trò" đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tăng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu... chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát...

Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu "Tú Mỡ đi xe bình bịch":

Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch
Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay
Bóp còi toe như quát tháo giương vây
Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp
Một thứ xe chậm chạp hiền lành
Trên đường dù chuông bấm liên thanh
Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh ...
Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.


Con người ta bất độc bất anh hùng - Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:

... Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâủ
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu

Ông Đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơ i trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay


Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm "Sáng Tạo". Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu Càng hiểu không ra lúc cuối đời Chẳng sao khi đã nằm trong đất Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi

Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Cali. Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế:

Đỉnh Trời gió quét mây tan tát
Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm
Trăng sao giọt lệ u trầm
Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?


Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)

PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: "... Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ... khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này... Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại..."

Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: "Hãy quay trở về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hương hạnh phúc cho nhân loại". (Tiền kiếp)

Và anh tha thiết ước ao: "Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng "thiện cũng thắng ác".

Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà - như một sự thiêng liêng - đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: "Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau... Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!".

Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: "Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời... Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn..."

Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá này. Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: "Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt ... Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu..." (Văn Học Miền Nam - Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: "Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn". (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng...

Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.

Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:

"... Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng...

... Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại...

... Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề...."

Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: "...Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vời. Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tặng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi...".

Trong tất cả những tác phẩm cuả anh - từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút - tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.

Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của họ. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là "Một Phụ Trang" để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang - mà là một phụ trang tâm tình - thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).

Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đỗ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seattle tháng 6 năm 1995:

"... Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thời. Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người... Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ... Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ mà tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là... Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông... Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hệ. Hạnh phúc thay!".


Nguyễn Văn Quảng Ngãi

#2 tamilot

tamilot

    Vua xạo

  • Members
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • 6,676 posts
  • Gender:Male

Posted 22 September 2011 - 10:56 AM

Posted Image

Thắp Cây Nhang
Cho Chị DQ Sỹ *



Khi hay tin chị mất tôi ngồi im
lúc chập tối mưa ngoài cánh rừng
lại hiện lên một vầng trăng khuyết
chị Sỹ ơi chị luôn hy sinh


nhớ buổi chiều chị lo bới xách
thăm nuôi anh, chúng tôi đã đến
góp thêm vào một bánh đường mật
con hẽm Nguyễn Trải nhà bên mặt


nhà còn treo nhiều tranh Duy Thanh
có chân dung anh thời Sáng Tạo
anh hiền bên chị, chị hiền hơn
giọng nói nhỏ nhẹ sao luôn nhớ


có nỗi ngậm ngùi như đời người
chị ra đi, thắp cây nhang thơm
chị ra đi gần rằm trung thu
chị ra đi như tấm gương sáng .

Virginia, 9 Sept 2011
Thơ Đinh Cường

* Chị Doãn Quốc Sỹ
nhũ danh Hoàng thị Thảo
mất ngày 8 tháng 9. 2011
tại Houston, Texas
*



#3 vietha

vietha

    Yamaha

  • Thành viên
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • 6,694 posts
  • Gender:Male
  • Location:Xứ 100 quan 6 cô

Posted 22 September 2011 - 07:23 PM

Hồi còn ở Sài Gòn, theo tui thì 3 quyển sách gây ấn tượng nhiều nhất khi đọc là "Dòng Sông Định Mệnh" của Doãn Quốc Sĩ, "Tình Cao Thượng" của Nguyễn Mạnh Côn (cũng là tác giả của "Mối Tình Màu Hoa Đào") và "Đêm Tóc Rối" của Dương Nghiễm Mậu. Trước đó thì "Vòng Tay Học Trò" của Nguyễn Thị Hoàng cũng gây nhiều tiếng vang trong giới độc giả..Tiểu thuyết lãng mạn thì có Mai Thảo, thơ thì Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nguyễn Đình Toàn..Hồi nhỏ đọc tiểu thuyết thì có "Những Thần Tượng Mới" hay "Những Ngày Vui Qua Mau" của Văn Quang. Có một thời gian, một số tác phẩm của Chu Tử như Yêu, Ghen, Loạn, Sống, Tiền ..rất nổi tiếng. Duyên Anh cũng xuất bản một số truyện trẻ thơ như "Ngày Xưa Còn Bé", "Bồn Lừa", "Dzũng Đa Kao","Điệu ru Nước Mắt", "Loan Mắt Nhung", "Châu Kool". Sau Mậu Thân thì "Giải Khăn Sô Cho Huế" của Nhã Ca. Năm chót Trung Học sửa soạn thi Triết thì chuyển qua đọc Camus, JP Sartre, Andre Gide, Simone de Beauvoir, Virgil Gheorghiu, Erskine Caldwell, Hemingway..

#4 tam an

tam an

    Đại xạo

  • Members
  • PipPipPipPipPipPip
  • 530 posts
  • Gender:Female

Posted 22 September 2011 - 09:13 PM



Chiếc chiếu hoa cạp điều




Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.

Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi – lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi – chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.

Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:

- Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.

Cậu tôi không chịu:

- Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).

Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.

Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu III. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơị Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là “Bến đò liễu xanh”.

Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.

Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.

Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán.

Nghe nói làng N.H. bên hữu ngạn sông Đáy gần chân dãy núi Tam Đảo là một làng trù mật, chuyên bán đỗ, gia đình tôi bèn chuyển đến đây theo sáng kiến của mẹ tôị khi tới nơi, mẹ tôi mới thấy rằng mình đã nhầm. Trước đấy một năm thì địa điểm này buôn bán được vì hầu như dân chúng toàn hạt Vĩnh Yên đổ xô về để tránh Pháp tấn công, nhưng nay, tình hình tạm yên ai nấy trở về chốn cũ, địa điểm N.H. trở lại chốn trầm mặt của chốn chuyển tiếp giữa vùng trung du bên dưới với vùng đèo heo hút gió bên trên.

Vừa lúc đó tôi xin thôi ở sở Thông Tin về.

Mẹ tôi mừng lắm vì người vẫn thường nói: “Thời loạn lạc gia đình nên gần nhau nhỡ có thế nàọ..”. Hình như trong óc người – có thể nói trong óc mỗi người trong gia đình tôi – đều luôn luôn lo sợ cảnh một người bị chết vì bom đạn rồi mất xác vì gia đình không kịp biết để nhìn nhận. Niềm vui đoàn tụ giúp chúng tôi bớt buồn nản khi thu xếp gồng gánh trở lại huyện Yên Lạc. Lần này gia đình tôi không dám ở gần bến đò Rau nữa vì sợ phi cơ oanh tạc, mà ở một làng cách huyện Yên Lạc chừng gần một cây số. Gia đình cậu tôi ở ngay làng bên. Lẽ cố nhiên cả hai gia đình chúng tôi cùng nghèo túng lắm, nghèo túng đến nỗi cậu mợ tôi, thày me tôi cũng không dám sang nhà thăm nhau, chỉ chiều chiều ra gặp nhau trên quãng đường đá nối huyện Yên Lạc với bến đò Rau.

Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Huyện – cậu mợ tôi là những người làm chứng – nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả, y như một đám cưới vụng trộm.

Em gái lớn tôi xoay đi buôn gạo, ngày ngày kĩu kịt đi về 20 cây số kiếm chút lãị Ở Yên Thế tuy bị sốt rét nhưng nhà ở giữa rừng ít lo bị địch tấn công bất ngờ; tuy cũng nghèo túng nhưng còn có đất rộng để tăng gia rau cỏ và nuôi được lợn gà.

Về đây những buổi ăn cháo ngô trừ bữa, mẹ tôi thường có ý khép cửa giữa lại.

Em gái tôi đã phải đi chợ thật xa để đong gạo rẻ mà rồi tính ra lời lãi cũng chẳng được là bao. Các cụ giải thích hiện tượng kinh tế này bằng câu: “Thóc gạo có tinh”, mẹ tôi làm tương gánh đi các chợ xa bán để kiếm thêm. Vợ tôi tạng người yếu nhưng khéo tay, không làm được việc nặng, nàng phụ trách những việc nhẹ như rang đỗ tương, ủ mốc, pha muối vào nước tương…

Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học nốt năm thứ ba hy vọng ngày thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng.

Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đị Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu mất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên.

- “Ấy cứ thế mà ấm ra phết anh ạ” – Nó vừa cười khoái trí vừa nói với tôi như vậy.

Các em trai em gái tôi đã lớn cả, chúng tôi hầu như thường thi đua trong việc nhường nhịn nhaụ Mẹ tôi chỉ còn thắc mắc về thằng em út của tôi. Nó còn nhỏ tuổi quá chưa thể tìm nguồn vui ở tinh thần để quên đói rét. Tương đối với cả nhà nó được mặc lành nhất. Nó mặc cái áo đỏ chót có những vệt chữ nho đen và những đường kim tuyến (nguyên đó là chiếc câu đối người ta phúng bà tôi hồi chưa tác chiến). Câu đối đỏ thì may áo, còn nẹp sa teng vàng mẹ tôi cố gạn may thêm cho nó chiếc áo di-lê. Chúng tôi gọi đùa nó là “anh cờ đỏ sao vàng”. Đêm đến rét quá không đủ chăn ấm, nó thường khóc khậm khạch. Chỉ cần có thêm đôi chiếu nữa thì cả nhà đủ ấm.

- “Chiếu cói kỵ gió”. – Mẹ tôi bảo thế.

Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?

Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc… Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.

Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.

Mẹ tôi vẫn chưa về.

Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen… Và tôi vùng ra cổng.

Thày tôi biết ý hẹn với:

- Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.

Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.

Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.

Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.

Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!

Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.

Tôi hỏi: “Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên”. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.

Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:

- Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư – tên thằng em út tôi – có chiếu đắp ấm.

- Mẹ ơi, “giàu con út, khó con út”, mẹ chẳng để ý gì đến chúng con, chỉ chăm chút cho chú Tư thôi.

Mẹ tôi đi trước, gió ngược chiều nên tiếng tôi mất hút về phía sau. Tuy nghe tiếng được tiếng không nhưng mẹ tôi vẫn hiểu câu nói đùa. Người vừa giữ cái chiếu vừa quay nhìn tôi mỉm cười.

Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bí tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi “thoát ly” ra ngoài.

Dạo đó chỉ còn một tháng nữa là tết. Tôi lại có dịp tạm rời trường Luật, đợi đến qua giêng mới có giáo sự Tôi về vừa đúng lúc gia đình đương cần nhân công xay thóc giã gạọ Dấn vốn của gia đình tôi còn đong được năm nồi thóc. Dùng số tiền đó làm tiền đặt mẹ tôi có thể đong về được tám nồi. Theo như mẹ tôi phác tính mỗi nồi thóc làm, được lợi ít ra là hai ca gạo, vị chi với tám nồi thóc, chúng tôi sẽ lợi ít nhất là một nồi rưỡi gạo. Cứ như vậy mà đủ việc liền trong một tháng, nghĩa là vừa đến tết, thì chúng tôi có thừa tiền đong gạo nếp gói bánh chưng và mua thịt cá để đón một mùa xuân kháng chiến tương đối huy hoàng.

Chúng tôi ngoại giao ổn thỏa với các nhà có cối xay cối giã rồi bắt đầu vào việc. Thầy tôi trông nom mấy đứa nhỏ sửa soạn cơm nước. Tôi và thằng em giai xay thóc trong khi mẹ tôi điều khiển vợ tôi và cô em gái sàng gạọ Xay hết thóc chúng tôi đã có gạo đem đi giã, giã đến đâu mẹ và em tôi sàng tấm sẩy cám đến đấy. Trong khi xay thóc tôi nhẩm ôn các đạo luật, các án lệ để sửa soạn kỳ thi cuối niên khóa. Khi giã gạo với vợ, tôi cùng nàng thủ thỉ xây mộng tương lai. Ngày kháng chiến thành công hẳn chúng tôi đã có những đứa con kháu khỉnh, đã trở về quê hương dựng lại căn nhà xinh, sống tự do bình dị trong tổ ấm gia đình.

Ngày đầu chúng tôi làm được tám nồi thóc với số gạo dư là hai nồi. Một cụ già ở đấy gật gù nói: “Vạn sự xuất ư nho, đúng thật. Học trò thì cái gì cũng làm được. Cứ bảo người Hà nội không chịu được lam lũ!”

Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. Mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.

Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt. Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc.

Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Mẹ Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương.

Dạo đó tuy đã có phong trào “rèn cán chỉnh cơ” nhưng chưa có cố vấn Tàu, chưa có chính sách “ba cùng”, học tập đấu tố nên mặc dầu kinh tế nguy ngập ai nấy vẫn tin tưởng ở ngày mai huy hoàng của dân tộc, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của già Hồ (như lời tuyên truyền phát thanh chiều chiều).

Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách xơ xác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu thì xảy cuộc hỗn chiến giữa quân đội Pháp và quân đội Kháng Chiến ở chân núi Tam Đảọ Để giữ vững ưu thế quân sự về mình tại mặt trận Vĩnh Yên. Tướng Pháp De L. quyết định hy sinh đoàn quân hắn, và hạ lệnh cho thả bom tận diệt đôi bên.

(Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ như chúng sao được?)

Từ chân núi Tam Đảo quân Pháp đánh tỏa ra ba mặt, đồng thời từ hữu ngạn sông Hồng, một toán Lê Dương vượt sang càn quét bến Rau ở tả ngạn. Dân chúng từ bốn mặt chạy về huyện Yên Lạc, đổ xô vào các làng. Mẹ tôi bèn thổi cơm hàng gánh đến bán cho họ.

Trong số rất đông các người ở làng Rau mang đồ đạc chạy đến làng Lũng Thượng, có gia đình ông Lý Cựu vốn là bà con với ông chủ nhà nơi tôi tản cư. Ông Lý nói chuyện với thầy tôi rất tương đắc nhất là khi ông biết tôi đương học trường luật thi ra thẩm phán.

Ông nói:

- Tôi có thằng cháu năm nay lên sáu; giời cho làm người, sau này kháng chiến thành công, tôi nhất định sẽ gởi cháu lên Hà Nội phiền ông bà và cậu Cả trông nom giúp cho thành thân người.

Quân Pháp sau khi từ chợ Me vượt qua sông Đáy tiến sâu vào huyện Lập Thạch đốt phá một ngày rồi rút lui về tỉnh. Cánh quân tiến sang tả ngạn sông Hồng đốt phá bến đò Rau cũng rút lui về vị trí cũ bên hữu ngạn. Dân chúng chạy loạn lục tục đâu trở về đấy ngay để còn kịp sửa soạn tết.

Làng Lũng Thượng trở lại yên tĩnh.

Trưa hôm đó mẹ tôi ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều. Đúng là chiếc chiếu của một gia đình chạy loạn nào khi về mừng quá bỏ quên.

Mẹ tôi nói: “Thôi thế cũng là giời thương mà cho nhà mình!”

Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp. Hai ngày sau, tới buổi sớm ba mươi tết, khi sực tỉnh, tôi thấy không khí trong làng có vẻ tưng bừng hơn vì những tiếng bàn tán xôn xao xen với tiếng cười ròn rã ngoài đường xóm. Tôi vùng dậy ra thẳng ngõ. Trời tuy lạnh ngọt nhưng quang đãng và êm ả vô cùng. Tôi gặp mọi người mắt ai nấy sáng sáng ngời tin tưởng. Thì ra ở khắp các tường làng đều đã kẻ khẩu hiệu:

“Chuẩn bị tổng phản công”.

Đồng bào thủ đô bàn nhau ngày về nhận nhà nhận cửa, đồng bào địa phương hơi có vẻ ngậm ngùi tưởng như giờ phút chia tay đã điểm.

Buổi trưa hôm đó ông Lý Cựu từ làng Rau mang theo vài thứ xa xỉ phẩm làm quà biếu ông chủ nhà vào dịp tết. Ông Lý Cựu có xuống căn nhà dưới thăm thầy tôi. Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:

- Chiếc chiếu này của tôi.

Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.

Người nói:

- “Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi…”

Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.

Ông Lý Cựu thản nhiên gấp chiếu lại, cắp gọn nách rồi thản nhiên nói:

- Không, chiếc chiếu của tôi. Tôi mua đôi chiếu cặp điều từ năm mới tác chiến, một chiếc còn trên kia.

Thì ra đôi chiếu đó, ông Lý mang đến gửi ông chủ nhà trong dịp vừa qua, rồi những người đến chạy loạn tự động mượn đem ra giải ở bụi tre nghỉ tạm, lúc về vì chiếu rơi xuống hầm trú ẩn nên họ quên không trả lại chỗ cũ.

Tuy chỉ một thoáng qua nhận biết sự thể là vậy nhưng tôi vẫn chưa chịu và tiếp lời mẹ tôi:

- Chiếc chiếu này mẹ mua của một người ở chợ Lầm. (Ý tôi muốn nói người đó lấy chiếc chiếu ở đây mang ra chợ Lầm bán).

Ông Lý vẫn thản nhiên, thản nhiên một cách cương quyết:

- Không, chiếc chiếu này của tôi.

Rồi ông cắp chiếu đi thẳng lên nhà. Lúc đó tôi cũng vừa trở lại với tôi để nhớ ra rằng cuối năm nay tôi đã thi xong, có thể ra làm thẩm phán. Tôi thoáng nghe phía sau tiếng vợ tôi thở dài rồi quay vào buồng.

Tối hôm đó khi thấy tôi lấy chiếc chiếu rách cũ vớt ở lạch đắp cho thằng em út, mẹ tôi chép miệng nói khẽ:

- Thôi, sang giêng trời bắt đầu ấm, vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!

“Vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!” – mẹ tôi nghĩ thật chí lý. Tổng phản công để bờ cõi được vinh quang độc lập, để mọi người được trở về dựng lại quê hương yên vui.

Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó – kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người – tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang.

Sớm mùng một năm đó mẹ tôi ra chùa lễ. Người quỳ rất lâu trước bàn thờ Phật. Giọng người thành kính thiết tha cầu đức Phật phù hộ cho chóng trở lại ỵên bình, gia đình được qua thì đói khỏi thì loạn.

Tiếng người khấn đôi khi nức nở. Tôi nghe nước mắt như muốn trào ra.

Dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý “Vật chất quyết định hết thảy”. Họ lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này kh di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy.

Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa. Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành.

Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới chủ trương duy vật, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.

Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.

Các bạn yêu quý của tôi!

Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua, trong đó có chuyện Chiếc chiếu hoa cạp điều


Doãn Quốc Sỹ

#5 tam an

tam an

    Đại xạo

  • Members
  • PipPipPipPipPipPip
  • 530 posts
  • Gender:Female

Posted 08 November 2011 - 01:41 AM

Cõi ký ức trăng xanh



Trong nhóm Sáng Tạo, tôi chỉ quen biết có hai nhà văn: Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Thanh Tâm Tuyền đã giúp đỡ tôi bước đầu khi tôi còn là ký giả. Riêng Tô Thùy Yên là người bạn đời của chị tôi, đã chỉ dạy tôi rất nhiều về cách thưởng thức các tác phẩm văn nghệ. Sau này qua sống ở Paris, tôi biết thêm ông Trần Thanh Hiệp. Tôi không quen Doãn Quốc Sỹ, tuy nhiên khi còn là sinh viên, tôi có theo một vài người bạn đến nhà ông ta ở đường Thành Thái, gần trường Đại Học Sư Phạm. Nếp nhà ông đơn sơ, chỉ trang hoàng sách và tranh, bàn ghế tầm thường. Bà vợ ông hiền dịu, gợi lên hình ảnh cô Miên, một nữ nhân vật trong bộ trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.

Doãn Quốc Sỹ với khuôn mặt xương, màu da tối, hiện rõ vẻ khắc khổ của thời thơ ấu và trong những năm đi kháng chiến vùng Việt Bắc. Bà vợ của ông là con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, ăn mặc giản dị, không son phấ, chỉ uốn tóc, và tỉa chân mày mà thôi...Bà là nhân vật mờ nhạt nhất trong các bà vợ nhà văn..Vào năm 1962, khi tôi đến thăm thì gặp bà đang khâu vá, còn ông thì ngôi nghe cô ái nữ đánh piano một cách chăm chú. Lần sau cách đó một tháng, tôi đến thì ông đi vắng, chỉ gặp bà ngoài đầu hẻm, tay xách cái xô ra phông-tên hứng nước.

Tôi đọc văn Doãn Quốc Sỹ lần đầu vào năm 1957 trên tạp chí Sáng Tạo (bộ cũ). Đó là truyện ngắn Khu Vường Bên Kia Cửa Sổ. Văn của ông thật qúi phái, mượt mà làm tôi say sưa vì thuở đó tôi còn là học sinh, thích khung trời thơ mộng, mơ tưởng tình yêu và chuộng những tình cảm nhẹ nhàng, mơn trớn...Từ Khu Vườn Bên Kia Cửa Sổ, tôi đọc lần lượt Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc. Đây là những truyện ngắn được diễn tả bằng một lối văn trong sáng, đôi lúc bóng bẩy và duyên dáng đưa tâm hồn người đọc tắm mát trong tình bác ái bao la. Theo quan niệm của ký giả Phan Lạc Phúc thì Doãn Quốc Sỹ, Mặc Đỗ được xếp loại nhà văn của nghệ thuật trắng, trong khi đó Thanh Tâm Tuyền là nhà văn của nghệ thuật đen.

Có lẽ ông Doãn chỉ nói đến những tâm trạng đơn giản, những cuộc sống trơn tru, dù có ngoắt ngoéo thế nào cũng có tình thương hàn gắn. Có nhiều người cho rằng ngòi bút của Doãn Quốc Sỹ không dám thọc sâu vào những bí ẩn của lòng người hay cái ghẻ lở của cuộc đời. Ông là người tốt, thích nhìn con người và cuộc đời qua khía cạnh tốt, giống như nữ nhân vật Melanine Hamilton trong Gone with the wind của Margaret Mitchell.

Tiểu sử đại khái của ông được ghi trong tuyển tập Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta vào năm 1974 như sau: Tên thật Doãn Quốc Sỹ, sinh ngày 3 tháng 2 năm 1923 tại Hà Nội. Trong ban biên tập tạp chí Sáng Tạo với các nhà văn Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế. Hiện chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo. Đã cộng tác với hầu hết các tạp chí xuất hiện tại Sài Gòn trong thập niên gần đây. Các tác phẩm chính: Truyện ngắn:Gánh xiếc, Gìn vàng giữ ngọc. Truyện dài:Dòng sông định mệnh, Sầu mây, Khu rừng lau. Biên khảo:Vào thiền, Người Việt đáng yêu. Bộ tuyển tập văn chương nhi đồng.

Hiện là giáo sư trường Sư Phạm Sài Gòn và đã từng học tại Hoa Kỳ nhiều năm. Chuyến đi xa này đã ảnh hưởng nhiều tới đời sống viết văn của tác giả.

Tiểu sử quả là ngắn ngủi và chưa ghi hết tác phẩm của họ Doãn.

Trong thập niên 60 và thập niên gần đây, tôi đã được đọc thêm các tập truyện cổ tích của ông như Sợ lửa, Trái cây đau khổ và Hồ Thùy Dương, thêm hai truyện dài nữa là U hoài và Đốt biên giới.

Riêng bộ trường thiên tiểu thuyết ngót 4000 trang Khu rừng lau của ông , tôi đã đọc những truyện Ba sinmh hương lửa, Tiếng hát từ lòng đất, Chiếc bè nữ chúa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Quỳnh Hương.

Vào khoảng 1957 đến 1962, tôi rất thích đọc văn ông , nhưng vào khoảng năm 1963 trở về sau, sự say mê dần loãng nhạt đi. Có thể là tại thời cuộc bắt đầu rối ren, và những gì ông viết không cung ứng được nhu cầu kiến thức của tôi nữa. Tác phẩm của ông quá hiền, ông chỉ nhìn nhân vật và cuộc đời bằng cặp mắt đơn giản, thiếu soi mói. Nhân vật của ông hoặc là thể hiện được tình thương để trở thành những kẻ đáng yêu, có triển vọng xây dựng một xã hội mới, hoặc thiếu niềm thông cảm và tình thương, tâm hồn trở nên gỗ đá, là bại hoại lịch sử và xã hội như bọn cộng sản chẳng hạn ...Tuy nhiên tôi không thể phủ nhận với bút pháp mượt mà, quyến rũ, tác phẩm của ông đã lôi cuốn biết bao học sinh, sinh viên.

Những nhân vật của ông trong bộ Khu rừng lau như Kha, Hiển, Triết, Tân, Hãng, Miên, Lê , Vân....đã tạo nên một thế kỷ lý tưởng dù họ đã bị cộng sản lợi dụng danh nghĩa chống thực dân Pháp đưa vào tròng phi nhân tính. Vốn thuộc thành phần trí thức, những nhân vật đó không thể chịu nổi cảnh tiêu diệt giai cấp trí thức nên đã bỏ chiến khu về Tề rồi theo làn sóng di cư vào Nam. Họ có thể chấp nhận sự trói buộc thân xác nhưng bắt họ vào vòng nô lệ tinh thần thì họ không thể chịu được. Họ tranh đấu chống cộng bằng giáo dục, bằng văn hoá khi định cư tại miền Nam, nhưng rồi cả miền Nam bị rơi vào tay một chính quyền tham nhũng, làm ruỗng nát xã hội... Nguyên nhân của những cảnh trái ngang, đau lòng đó, theo họ Doãn là do sự thiếu tình thương, niềm thông cảm. Tuy nhiên những nhân vật đó vẫn hy vọng và âm thầm dựa vào tình thương mà tranh đấu.

Có thểbảo bộ Khu Rừng Lau là tác phẩm xương sống của Doãn Quốc Sỹ căn cứ trên một chuỗi bối cảnh lịch sử từ đầu cuộc kháng Pháp trước năm1946 đến những năm khủng hoảng chính trị tại miền Nam. Các nhân vật trong đó là lớp trẻ đồng thời với tác giả hoặc có thê thấp thoáng phản ánh chính chân dung và cuộc đời tác giả, đã bị làn sóng thời cuộc cùng dòng lịch sử biến động dập vùi, thế nhưng họ vẫn giữ được niềm tin, tình thương và niềm thông cảm...Giữa lúc xã hội điên đảo, tinh thần và niềm tin bị phá sản, cùng lúc những hưởng thụ vật chất làm cho con người trở thành tàn tật, bệnh hoạn thì niềm lạc quan từ tác phẩm trường thiên của họ Doãn lọt ra , chiếu sáng thế hiệ chúng tôi, chiếu sáng cuộc đời...

Về kỹ thuật, bộ Khu Rừng Lau chưa đạt được niềm mong mỏi của đa số thức giả vì Doãn Quốc Sỹ viết văn quá ít, còn kể chuyện thì nhiều. Những chỗ nào có thể viết văn thì ngòi bút của ông thao túng, tràn ngập sinh khí. Riêng ở những đoạn kể chuyện, tác giả không thể dựng lên một đời sống, một hoạt cảnh, hay những hình ảnh cần thiết.

Viết trường thiên tiểu thuyết để nêu lên một bối cảnh lịch sử đã có Léon Tolstoi trong Guerre et Paix, Margarett Mitchell trong Gone with the winhd, Lâm Ngữ Đường trong Kinh hao yên vân...Ở những nhà văn này, họ cố gắng viết văn tức là cố gắng dựng đời sống trong tác phẩm của mình. Họ giãi bày quan niệm của họ qua hành động và tư duy của các nhân vật thành ra tác phẩm tràn ngập sinh khí, không khô cứng và vô hồn. Riêng trong bộ Khu Rừng Lau, Doãn Quốc Sỹ chỉ chứng tỏ tài năng ở những đoạn viết văn, còn những đoạn kể chuyện tuy được trình bày bằng lối hành văn duyên dáng, ông đã để lộ qua nhiều nhược điểm.

Riêng đối với tôi, dù thế nào đi nữa, tôi vẫn yêu tác phẩm Khu Rừng Lau. Nó làm tôi tin tưởng vào cuộc đời, vào truyền thống của kẻ sĩ trước cơn phong ba lịch sữ.

Ngoài đời Doãn Quốc Sỹ là một nhà mô phạm gương mẫu. Ông bị đổi đi dạy ở Hà Tiên cũng vì chống đối chính quyền Ngô Đình Diệm và các tay đầu não ngu xuẩn trong bộ Giáo Dục. Ông thích giữ những nghi lễ và tiết tháo của các nhà nho xưa. Theo lời chị Tuệ Mai, Tết nào ông cũng vận khăn xếp áo dài đi chúc Tết bạn bè thân thuộc. Một điều chắc chắn là ông không thích trường phái văn nghệ hiện sinh, dù ông là cây bút biên tập nòng cốt của tờ Sáng Tạo. Chúng ta có thể thấy rõ khuynh hướng của ông ở truyện ngắn Hương nhân loại trong quyển Gìn vàng giữ ngọc. Lại nữa, khi tôi đến gặp ông lần đầu thì ông có cho biết là ông thích Sơn Nam , Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Vũ Hạnh. Theo ông , Sơn Nam làm sống lại tinh thần lóp dân miền Nam. Võ Phiến và Vũ Hạnh diễn tả trung thực tâm trạng lớp dân miền Trung và ông , ông muốn làm sống lại bối cảnh lịch sử cùng tâm tình người miền Bắc theo vận nước nổi trôi qua bộ Khu rừng lau.

Thuở đó, tôi chỉ là cậu học trò nên trong cuộc tiếp xúc, ông chỉ coi tôi là một độc giả ái mộ, do đó ông không nói gì nhiều, thái độ khép kín và thận trọng. Trước khi tôi ra về, ông bỗng nói:"Các anh em bạn trẻ chắc thích Thanh Tâm Tuyền lắm nhỉ? Văn của Tuyền hợp thời nhất, có phải không nào? Thế thì tôi sẽ in cho ông ta tập truyện Khuôn mặt."

Lúc đó Doãn Quốc Sỹ chủ trương nhà xuất bản Sáng tạo. Ông làm quần quật, nào sửa bản vỗ, nào đi phát hành cùng trăm chuyện linh tinh khác.

Sau ngày 30-4-75, khi đi đăng ký ở Hội Văn Nghệ Sĩ Giải Phóng thành phố HCM, tôi được biết Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế và ông kẹt ở lại. Ít hôm sau, nhân sang chơi nhà ký giả Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng, tôi được gặp anh Vũ Hạnh và ông giám đốc nhà xuất bản Trí Đăng. Vũ Hạnh nói:"Tôi đã gặp Doãn Quốc Sỹ. Anh ta bảo:"Bây giờ tôi như Thúy Kiều tới sông Tiền Đường rồi."Tôi bẻ lại:"Kiều vì hiếu bán mình chuộc cha, còn hiện nay các nhà văn miền Nm vì đồng đô la, bán rẻ nhân phẩm để suy tôn bọn đế quốc Mỹ và làm tay sai cho chúng, so sánh thế nào được ?" Lúc đó tôi không biết nói gì. Rồi trong lúc la cà ở câu lạc bộ của Hội Văn Nghệ Giải Phóng, tôi được biết thêm khi nhà thơ trào phúng Tú Mỡ vào Nam thăm con gái và con rể, ông đã khóc bảo Doãn Quốc Sỹ:"Anh không đi được , thế là hỏng rồi! Bố làm sao cứu nổi anh!"

Vào khoảng tháng 3 năm 1975, trước ngày bầu cử quốc hội, Doãn Quốc Sỹ bị bắt. Cách đó ít lâu, nhà thơ lão thành Tú Mỡ cũng từ trần ngoài Bắc. Trong thời gian còn ở Việt Nam , Nguyễn đình Toàn đã kể với tôi rất nhiều điều về họ Doãn. Trong trại cải tạo, bọn cộng sản rúng ép bắt ông phải làm tờ phản tỉnh vì nhìn nhận những gì ông đả kích Việt cộng là sai lầm. Họ Doãn điềm tĩnh nói:"Tôi kháng Pháp suốt 9 năm, đã cùng sống với các ông , tôi không lầm các ông đâu."

Vâng, trong thập niên 60, Doãn Quốc Sỹ đã có một cương vị sáng chói trong văn học sử, thì từ 1975, ông càng được ngưỡng vọng vì sự bất khuất ấy. Trong tù, dù khổ cực cách mấy, ông vẫn ung dung giữ tiết tháo, vẫn vào thiền để giữ tâm tĩnh lặng trước chông gai. Thời Trần chúng ta có Trần bình Trọng, thì nay họ Doãn khi ngẩng đầu cùng mặt trời và trăng sao, đã không hổ thẹn với tiền nhân.

Doãn Quốc Sỹ bị chính quyền cộng sản bắt rồi thả, thả rồi bắt hai lượt. Báo chí, hội đoàn ở hải ngoại tìm đủ mọi cách nhờ Ủy Ban Ân Xá quốc tế can thiệp để ông được phóng thích. Cầu đức Quán Thế Âm Bồ Tát phù hộ cho ông.

Tôi biết về Thanh Nam rất ít, nhưng tôi đọc truyện Thanh Nam khá nhiều, từ các truyện dài như Lỡ một đời hoa, Cuộc đời thiếu nữ, Người nữ danh ca...Các nhà văn nhà báo miền Nam gọi anh là "văn sĩ cô nương", có nghĩa là nhà văn viết cho các thiếu nữ đọc. Nữ độc giả trẻ tuổi thuộc thế hệ tôi vào thập niên 40, 50 đều mê truyện của anh ở lời văn óng ả, réo rắt, ở tựa sách du dương ...

Nhưng Thanh Nam đâu chịu dừng ở đó. Anh bắt đầu tinh luyện hơn để cùng với Văn Quang và Tuấn Huy cho xuất bản những cuốn có chiều sâu hơn như Giấc ngủ cô đơn, Dòng lệ thơ ngây, Cho mượn cuộc đời...Những tác phẩm đó dù là tiểu thuyết diễm tình nhưng cho thấy Thanh Nam đã khám phá ít nhiều chiều sâu trong lãnh vực sáng tác và anh rẽ qua một ngã ngoại mục hơn. Tuy nhiên nói về cuốn sách xương sống trong văn nghiệp của anh thì phải nhắc đến tập truyện Buồn ga nhỏ và truyện ngắn Cỏ rừng trước kia đăng ở tạp chí Hiện Đại sua nhay đổi thành Buồn ga nhỏ khi vào tập truyện.

Trọn thời mới lớn, tôi đã mê đọc truyện của Thanh Nam sau lớp Ngọc Sơn, Thanh Thủy. Tôi mê tiểu thuyết của anh cùng các tác phẩm của bà Tùng Long, của Dương Hà, Trọng Nguyên..Lớn lên, ngoài truyện của anh tôi còn mê thêm truyện của Bình Nguyên Lộc.

Thanh Nam còn đặt lời cho các bản nhạc như Thuyền trăng của Nhật Bằng, Hoa bướm ngày xưa của Nguyễn Hiền, Đẹp giấc mơ hoa của Hoàng Trọng. Lời nhạc của anh óng ả như tơ và sáng dịu như trăng, lối diễn tả tỉ mỉ, không khí bâng khuâng như cảnh sắc bàng bạc hơi thu hợp với đầu óc lãng mạn của tôi thời mới lớn:

Cho nhớ thương về quê xưa,
Ngày xanh không còn nữa
Muôn cánh hoa đào phai úa...
Ta yêu trăng sầu
Ngàn năm soi bến giang đầu
Thương anh Trương Chi
Yêu nàng Ngọc Nữ đêm nào...

(Thuyền trăng)

hay:
Hôm qua đến tìm em
Anh thấy hoa xuân rụng trước thềm...

(Đẹp giấc mơ hoa)

Ngày đó , thế giới văn chương của Thanh Nam đã mê hoặc một cậu trai miệt vườn như tôi. Nào là cảnh thành phố buổi sáng. Những người sống về đêm mệt mỏi trôi từ những con đường tinh mơ vắng người đền những hành lang sâu thẳm của các chung cư. Những căn phòng của những người cô đon. Những giấc ngủ ban ngày. Những màn tắm douche . Những cốc cà phê, những chai rượu, những ly bia, những bữa ăn trái giờ ...Và sau đó là buổi chiều, khi thành phố vừa lên đèn với những con người sống về đêm: vũ nữ, nghệ sĩ cải lương, ca sĩ phòng trà, văn nhân ký giả, khách tìm hoa, gái giang hồ...bắt đầu cuộc sống của mình. Quán ăn, phòng trà, phòng ngủ, rạp hát, hậu trường...bừng bừng sức sống trong tiếng nhạc thời thượng, mùi nước hoa, mùi son phấn, mùi mồ hôi...Đó đây có những tiếng thở dài, những giòng lệ, những nụ cười, những hoài bão bé nhỏ, những hy vọng mong manh trong nỗi đam mê lao vào dòng sống của các con thiêu thân. Văn chương của Thanh Nam hâm hấp tình dục, ứ nghẹn đam mê bốc cháy nhưng vẫn đôn hậu , trong sáng.

Vào năm 1967 tôi mới có dịp gặp anh. Nhưng trước đó tôi đã văn nghệ sĩ kháo nhau về các mối tình của anh với những người đẹp nổi tiếng như đào Thanh Nga, Bích Sơn và danh ca Bạch Quyện Anh là nhà văn, nhà báo độc thân và đào hoa, mãi ngoài bốn mươi mà chưa vợ. Gặp anh lần đầu, điều tôi chú ý nhất là nụ cười. Anh không đẹp trai , chỉ ưa nhìn thôi. Mắt anh hơi trố, răng anh hơi vẩu, da anh hơi ngăm, ấy vậy mà nụ cười anh thật tươi sáng, thật hiền hậu, cởi mở . Nụ cười đó chiếu lên khoé mắt sáng trưng đầy nhân hậu. Thuở đó anh đã ngoại tứ tuần, tóc chưa có sợi bạc. Anh ở building Cửu Long đường Hai Bà Trưng.

Thời gian đó anh như một cánh chim cứ bay lượn, nhào lộn mà chưa chọn cành đậu. Hôm Thụy Vũ, ký giả Lê Phương Chi và tôi đến tìm anh thì anh đang ngà ngà say và ngỏ ý không muốn lập gia đình. Lê Phương Chi gật gù không nói. Sau cùng, trước khi từ giã, Lê Phương Chi bảo với Thanh Nam:"Túy Hồng đã bỏ Huế vào Sài Gòn cùng với gia đình. Hiện nay cô ta dạy học ở trường Mạc Đĩnh Chi."

Tuý Hồng! Vào năm 1959, tôi đã đọc những truyện ngắn của chị đăng trên Văn Hữu, Bách Khoa . Lời văn của chị táo bạo, lối diễn tả thông minh, sâu sắc . Rồi kế đó nhà xuất bản Thời Mới của Võ Phiến tung ra tập truyện của chị nhan đề Thở . Chỉ một tập truyện ngắn thôi, tên tuổi Túy Hồng đã rực sáng bên cạnh những nhà văn nữ như Nguyễn thị Vinh, Linh Bảo, Vân Trang...Trước Túy Hồng, văn giới cho Linh Bảo là cây bút phụ nữ sâu sắc, thông minh . Nhưng tới Túy HỒng thì bên cạnh sự sâu sắc, thông minh còn có tính chất táo bạo.

Với thế giới văn chương Túy Hồng, tôi đã tắm mát trong khung cảnh Huế. Theo chị, ở Huế nhà nào cũng có một mảnh vường con và "nhà nào không có một mảnh vườn con thì như đàn bà thiếu ngực." Huế của Túy Hồng là chiếc nón lá, mái tóc xoã , áo dài trắng, bến đò Thừa Phủ. Huế của kẹo mè xửn, kẹo cau, bún bò, dấm nuốt, bánh khoái, bánh bột lọc, bánh canh Nam Phổ ...Huế với những vụ biểu tình, những biến động chính trị. Huế và những cô gái lỡ thời, đêm đêm mất ngủ, mơ mộng lứa đôi rồi thở dài. Vào Nam , Túy Hồng viết về Sài Gòn mà vẫn giữ tinh thần người đàn bà Huế, nồng nàn yêu nếp sống cũ, kỷ niệm cũ, lạc loài trong sinh hoạt náo nhiệt của thủ đô.

Thụy Vũ và tôi rất ngưỡng mộ Túy Hồng. Khi chị tôi bước vào văn đàn, vốn là kẻ đi sau nên ao ước được quen với các nhà văn nữ khác. Dịp đó đã đến. Rằm Trung Thu, Túy Hồng đích thân đến kiếm Thụy Vũ đưa đi thăm Trùng Dương. Tuy mới gặp, cả hai đã có vẻ mến nhau. Được vài tuần, Túy Hồng cho biết chị vừa đính hôn vớ anh Thanh Nam. Lúc đó chị đã 28 tuổi.

Năm 1967, Thanh Tầm Tuyền đoạt giải nhất Văn Học Nghệ Thuật toàn quốc về truyện ngắn qua tác phẩm Khuôn mặt. Ổng đem tất cả số tiền thưởng hùn với Thanh Nam để đãi bạn bè. Đó cũng là buổi lễ đính hôn của cặp Thanh Nam - Túy Hồng.

Hồi ở Sài Gòn , anh Thanh Nam cứ dời nhà luôn. Mỗi lần họ dọn nhà, tôi đều có đến thăm. Cuộc sống của họ êm đềm, hạnh phúc cho đến 1973 thì một bất hạnh xảy đến: cái chết vì bệnh sưng màng óc của cô thứ nữ Trần Túy Hồng Ngự đã khiến vợ chồng Thanh Nam đau khổ và khủng hoảng kéo dài hơn một năm. Trong những tháng đầu, Túy Hồng đêm đêm không dám tắt đèn .Thanh Nam thì cứ uống rượu li bì đến nỗi ngã bịnh, phải nằm nhà thương điều trị cả tháng trời . Túy Hồng đã tâm sự với Thụy Vũ:"Bà biết không , tui có một tình địch đáng sợ. Đó là rượu! Thanh Nam cần rượu như người ta cần giải quyết sinh lý." Cái chết của Trần Túy Hồng Ngự đã gây nhiều xáo trộn trong việc sáng tác của Túy Hồng. Chị đình chỉ nhiều truyện dài đăng từng kỳ trên các báo và sau đó đưa ra tác phẩm Nhánh tóc sợi dòn kể lại nỗi lòng đau khổ của người mẹ trước cái chết của con mình.

Năm 1970, Túy Hồng đoạt giải nhất về bộ môn văn qua cuốn Những sợi sắc không trong khi Thụy Vũ đoạt giải nhì qua Khung Rêu và Nhã Ca đoạt giải ba qua Giải khăn sô cho Huế .

Nhàn vân đàm ảnh, nhật du du
Vật hoán tinh di, kỷ độ thu

Hai câu thơ của Vương Bột trong bài Đằng Vương Các chợt đến với tôi khi tôi viết bài này. Ôi, bóng mây thong dong in trên đầm nước cứ bay phiêu diêu, vật đổi sao dời đã mấy thu, chợt ngoảnh lại thì đã hơn mười lăm năm mất nước! Tập thơ Đất khách của Thanh Nam trên đất Mỹ đã ghi bao tâm sự. Từ ngậm ngùi cho bằng hữu cũ:

Bằng hữu qua đây dăm ba kẻ
Đứa nuôi cừu hận đứa phong ba
Đứa nằm yên phận vui êm ấm
Đứa nhục nhằn lê kiếp sống thừa

(Thơ xuân đất khách)

đến lạc lõng trong cảnh ngộ mới, chưa thoát khỏi bóng hình dĩ vãng:

Một năm người có mười hai tháng,
Ta trọn năm dài một tháng tư
Chấp nhận hai đời trong một kiếp
Đành cho dông bão phũ phàng đưa

(Thơ xuân đất khách)

Khi cầm bút khóc cho Tuệ Mai hay cho Thanh Nam hình như người cầm bút nào đã khóc cho chính mình. Văn nghệ sĩ làm văn nghệ người coi như một cuộc hành hương, kẻ coi như một cuộc chơi chưa mãn thì bỗng đâu cơn bão tháng tư thổi tới khiến tan đàn sảy nghé, tứ tán khắp nơi.

Tôi không có tham vọng viết về sự nghiệp văn chương của Doãn Quốc Sỹ hay Thanh Nam. Việc đó dành cho các học giả, các nhà biên khảo. Riêng tôi,viết về hai nhà văn này, tôi cảm thấy tâm hồn mình lắng sâu vào cõi ký ức bát ngát trăng xanh. Tôi sống lại chặng đời thơ mộng cũ, yêu đương hết mình, say nhừ thú ái ân, tâm hồn không bị tổn thương, giấc mộng tương lai tròn nguyên như phiến trăng rằm. Ngày xanh huyền diệu ấy dễ gì tôi tìm gặp lại! Không còn quê hương, không còn khung cảnh cũ, không còn thời gian xưa....Tôi đã mất hết, duy chỉ còn cõi ký ức ảo diệu đã phần nào mờ nhạt giúp tôi sống lại quãng đời xưa và niềm say sưa rung cảm cũ .

HỒ TRƯỜNG AN



#6 TOO

TOO

    Dóc professional

  • Members
  • PipPipPipPipPipPipPipPipPip
  • 5,533 posts
  • Gender:Female

Posted 08 November 2011 - 04:14 PM

Tâm An thích những truyện ngắn nhẹ nhàng :hug:

#7 tam an

tam an

    Đại xạo

  • Members
  • PipPipPipPipPipPip
  • 530 posts
  • Gender:Female

Posted 10 November 2011 - 02:50 AM

Tâm An thích những truyện ngắn nhẹ nhàng :hug:


May ra nhờ vậy đời sống sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn, chị TOO :hug: :hug:

#8 tam an

tam an

    Đại xạo

  • Members
  • PipPipPipPipPipPip
  • 530 posts
  • Gender:Female

Posted 02 June 2012 - 05:42 AM

CHỮ TÂM

-Doãn Quốc Hưng –

Thật là bất ngờ và cũng là niềm vui sướng khi gia đình tôi vừa đặt chân tới Hoa Kỳ để đoàn tụ với bố mẹ thì hay tin anh Trần Việt Hải và bác Tạ Xuân Thạc cùng nhóm Đồng Tâm đã mời một số thân hữu, các nhà văn, nhà thơ, nhà giáo kỳ cựu, trong số đó có cả những cựu học sinh của bố tôi: mục đích thực hiện một quyển sách lấy tên là “Kỷ Niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ” nhằm vinh danh người đã có công lao với nghiệp văn chương, đồng thời cũng để mừng sinh nhật thứ 84 của bố tôi.
Với tình thân trong gia đình, bác Thạc hỏi rằng có những kỷ niệm hay muốn nói điều gì với người cha kính yêu của tôi không thì mời đóng góp vào quyển sách này . . . Tôi đã vui mừng nói lên điều mà tôi muốn góp trong quyển sách này chính là chữ TÂM mà bố tôi đã từng nêu gương suốt trong cuộc sống của người, cũng là chữ mà từ lâu tôi muốn nhắc nhớ hàng ngày, thế nên đã tự đặt tên cho con trai yêu quý của mình là DOÃN QUỐC SỸ TÂM mục đích là để cho con cháu học nơi Cha, Ông mình đã sống, nêu gương hàng đầu:
DOÃN QUỐC SỸ TÂM
Viết cho Ti-Oui, Doãn Quốc Sỹ Tâm
Bố đặt tên con là Doãn Quốc Sỹ Tâm, tức là tâm của ông nội. Tại sao vậy ? Vì bố muốn nhắc con về một truyền thống về trọng chữ tâm của gia tộc nhà mình. Nó khởi đầu từ bao lâu rồi không rõ, nhưng ông nội trở thành một biểu tượng mạnh mẽ. Khi con lớn lên, con sẽ được đọc tác phẩm của ông nội. Con sẽ có dịp đọc những bài viết về ông nội của những nhà phê bình văn học. Con sẽ thấy một ông Doãn Quôc Sỹ nhà văn, nhà giáo dục… Đó là ông nội trong xã hội, trong cộng đồng người Việt Nam. Trong bài viết này, bố kể cho con nghe chuyện về một ông nội khác. ông Doãn Quốc Sỹ của gia đình.
Hồi tôi còn nhỏ ( thời gian trước 1975), ký ức về một ông bố văn nghệ sỹ không nhiều lắm. Tôi nhớ rằng bạn bè của bố tôi đến chơi nhà đa phần là giới văn nghệ sỹ. Thỉnh thoảng, tôi thấy bố mẹ tôi chuẩn bị cơm chiều ngoài phòng khách (vì cơm gia đình thì ăn trong bếp). Tôi đứng thập thò từ phòng trong nhìn ra, nghe loáng thoáng nhớ đến mấy cái tên như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền… Có hôm, tôi nghe mẹ nói có bác nhạc sỹ Phạm Đình Chương làm bài Ly Rượu Mừng tới ăn cơm . Rồi một lần, cô nhà thơ nhà báo Minh Đức Hoài Trinh đến không ăn cơm trên phòng khách mà xuống nhà bếp cùng ăn với cả nhà. Đối với tôi hồi ấy, cô thật đẹp, sang trọng, quí phái. Ngồi nghe cô nói chuyện với người lớn về những chuyến đi viết bài ở nước ngoài, quả thật là giấc mơ đối với một cậu bé ham viễn du như tôi.
Hoạ sĩ có Bác Duy Thanh, Ngọc Dũng. Vào khoảng đầu thập niên 70, bác hoạ sĩ Võ Đình từ Mỹ về, ở lại chơi với gia đình tôi khá lâu. Có một buổi trưa, bác mua sơn đỏ đen về để sơn lại cái tủ thờ nhà tôi, sau đó dùng tuôc-nô-vít vẽ ngay trên mặt sơn ướt thành 16 hoạ phẩm, có chữ ký của bác đàng hoàng. Bác bảo với chúng tôi rằng sau này, nếu túng tiền thì cứ cậy từng tấm ra mà bán như là một bức tranh, tính ra thì nhiều Đô La lắm !
Những kỷ niệm liên quan đến sự nghiệp văn chương sau 1975 của bố tôi dĩ nhiên không được êm đềm như thế. Vì nghiệp cầm bút lúc này đi liền với chuyện vào tù ra khám. Hãy nghe mẹ tôi
kể về việc bố tôi sáng tác thời gian sau khi bố đi cải tạo lần đầu trở về: bố tôi thai nghén một tác phẩm y như một phụ nữ mang nặng đẻ đau, nên rất dễ biết. Ông vốn ăn đã ít, lúc ấy lại càng biếng ăn thêm. Suốt ngày ông chỉ tư lự, suy nghĩ đến một điều gì đó trong đầu. Thỉnh thoảng lại lấy giấy ra ghi ghi chép chép. Kế tiếp là giai đoạn viết liền tù tì ngày và đêm. Sau đó, bố tôi bắt đầu đọc lại cho chị tôi đánh máy. Mẹ tôi lo lắm. Nghe tiếng máy đánh chữ gõ lạch cạch ban đêm, bà cứ cằn nhằn bố, rồi lại kể lể với con cái. Lúc đó là đầu năm 1984 , giấy tờ bảo lãnh bố mẹ tôi đi Úc đã xong xuôi, chỉ còn chờ ngày lên chuyến bay là thoát nạn, thế mà bố vẫn làm những chuyện dại dột ấy ! Đợi sang kia rồi thì tha hồ viết lách! Mẹ tôi lo không xa tí nào. Chị hàng xóm tốt bụng, là tổ phó an ninh ở đối diện nhau đã lén sang nhà tôi mách rằng hơn một tuần qua, công an chìm đã được cử xuống nằm ở nhà chị để theo dõi nhà tôi. Vào rạng sáng ngày 2-5 năm ấy, công an vào lục tung nhà tôi lần thứ hai, rồi bắt bố tôi đi vào khoảng 6 giờ sáng. Tôi nhớ cái cảnh buổi sáng , cả xóm trong hẻm ra đứng chứng kiến cảnh độ một chục ông công an đưa bố tôi ra xe. Trong một cái hẻm lao động vào những năm ấy, mấy chiếc xe con vào đậu trong hẻm cùng một lúc là một điều bất thường. Nhà tôi ở gần cuối hẻm. Bố tôi bước đi lần thứ hai dưới sự chứng kiến của cả xóm . Những cặp mắt tò mò,thông cảm .
Mẹ tôi đã phải vất vả thêm 8 năm nữa cho việc đi thăm nuôi ông chồng, vì đã không thể thuyết phục nổi bố tôi chọn cuộc sống an toàn. Người mẹ nào cũng thế, thường phải lo cho gia đình trước đã. Nhưng không phải ai cũng nghĩ như thế. Một số bạn bè văn nghệ của bố đang ở nước ngoài thời ấy, khi biết tin bố tôi sắp đi Úc, có viết thư bóng gió khuyên rằng bố tôi không nên đi. Biết ở lại là nguy hiểm, nhưng ai cũng đi hết thì còn ai là cầu nối nhịp giữa trong và ngoài nước nữa. Thời đó Việt Nam còn đóng kín cửa, tâm tư của người trong nước đâu có mấy ai dám bày tỏ. Nếu câu “miếng khi đói bằng gói khi no” đúng với nghĩa đen, nó còn có ý nghĩa hơn với các món ăn tinh thần. Bố tôi cũng đồng quan điểm này. Đã hơn một lần, bố tôi nói văn là nghiệp chứ không phải là nghề, mà bỏ nghiệp thì khó lắm! Sang bên kia rồi, xem chừng khó mà viết lại được những trăn trở của người ở lại, những chứng nhân của một cuộc bể dâu của dân tộc Việt. Có lẽ cả lương tri lẫn niềm đam mê của người cầm bút đều không thể làm ngơ được. Thôi thì, trót mang lấy nghiệp vào thân…
Trở lại với ông Doãn Quốc Sỹ của gia đình, hẳn nhiều người sẽ thắc mắc là thì giờ đâu để một nhà giáo, một nhà văn như bố tôi chăm sóc cho một gia đình 8 con. Đó cũng là một câu hỏi thường xuyên của thế hệ chúng tôi về thế hệ trước.Tôi cũng đã là bố của gia đình hai con. Chỉ mới có hai đứa thôi, vợ chồng tôi đã cảm thấy quá vất vả rồi. Thì giờ đâu mà bố tôi vừa sáng tác, vừa soạn giáo án, vừa chăm sóc, dạy dỗ cho con cái nên người? Có một phương pháp, nguyên tắc giáo dục nào chăng, thí dụ như phương pháp “tự giác” chẳng hạn? Hay chỉ là đơn giản vì “trời sinh voi, trời sinh cỏ”? Vẫn biết là mẹ tôi mới là người quán xuyến gia đình. Nhưng trong việc định hình, phát triển nhân cách của các con, bố tôi mới có dấu ấn rõ rệt.
Nhìn lại những chuyện ngày xưa trong gia đình để tìm ra và học tập “phương pháp” đó, tôi nhận ra những điều ngộ nghĩnh. Tôi có một ông chú thương gia giàu nhất trong họ. Chú Kiệm là “cố vấn” của bố, tham gia rất nhiều vào các quyết định của gia đình tôi. Hầu hết tên của bọn tôi, con nhà văn DQS, là do chú đặt! Đã hơn một lần bọn tôi bị phê bình là tên con của nhà văn mà không được hay lắm! Chú là người tư vấn nhà tôi nên xây sửa theo kiểu nào. Bọn tôi đứa nào học giỏi, thi đỗ đều do chú thưởng. Tôi còn nhớ, cuối tháng nào có bảng danh dự, tôi cũng mong chú mau lên nhà để trình , để có tiền thưởng mua xá xị Phương Toàn uống. Lễ khui champagne cho chị tôi đỗ tú tài làm tại nhà chú. Ấy thế, nhưng nhà tôi mới là “trung tâm giáo dục” của họ hàng. Con chú lại được gởi xuống nhà tôi “du học”, tức là ở lại nhà học hành chung với bọn tôi để có không khí, đến cuối tuần mới được về. Sau 1975, cây đàn piano đầu tiên của gia đình tôi và cô Qúi ky cóp gom lại mua được đặt tại nhà tôi. Ngọc, con gái của cô ở nhà tôi gần như cả ngày để vừa học chữ, vừa học đàn. Có lẽ vì không có gia đình nào đủ can đảm để mua đàn piano, chưng nó tại nhà vào cái thời ấy, khi mà người ta còn phải bán và dấu bớt đi tài sản của mình vì lý do an ninh.

Nhắc tới đây, tôi muốn nói thêm về một gia đình lớn hơn, gia đình thứ hai của bố tôi . Gia đình ông nội có hai thành viên, bố tôi và cô Qúi, di cư vào Nam năm 1954. Ông Tư, em của ông ngoại cũng vào trong đợt này, nhà ở Gò Vấp. Chú Kiệm thì đã
lập nghiệp tại Sài Gòn từ năm 1942 ở bên Khánh Hội. Đại gia đình của chúng tôi gồm những thành viên như thế. Hầu như quyết định quan trọng nào của gia đình tôi đều có cô Qúi, chú Kiệm, hoặc ông Tư tham gia và ngược lại. Cuối tuần, chúng tôi cũng mong có tiểu gia đình nào sang chơi, hoặc được bố đưa đi thăm nhà ông, cô, chú …Bọn tôi hư hay ngoan như thế nào, đều được “báo cáo” lại cho đại gia đình. Có lẽ trách nhiệm chăm sóc, giáo dục con cái của bố mẹ tôi cũng được san sẻ bớt nhờ vậy. Cứ vào ngày mồng Một Tết, gia đình cô Qúi - chú Phong sang nhà tôi trước. Sau đó cả hai gia đình cùng lên nhà chú Kiệm. Từ nhà chú Kiệm, cả ba gia đình lên chúc tết ông bà Tư . Xe chú Kiệm là sang nhất, chiếc xe Hoa Kỳ Chrevolet dài sượt. Cô Q lái chiếc bốn chỗ gọn gàng hơn, đủ chỗ cho một gia đình 4 con. Bọn tôi 8 đứa thì được chất đằng sau chiếc xe thùng Daihatsu của bố tôi. Nó vừa là xe chở sách đi giao, vừa là xe chở thực phẩm cho cả nhà. Người lớn thì áo vest, áo dài. Con nít diện quần áo mới. Gia đình đông con như nhà tôi, có đôi khi bốn anh em trai mặc cùng một kiểu đồng phục “Tứ Quái Dalton”. Đi đến gia đình nào, gia đình đó lại náo nhiệt, ồn ào, ấm cúng thêm. Hình ảnh cả đại gia đình rồng rắn nối đuôi nhau đi chúc tết trong những buổi chiều xuân như vậy mãi mãi không bao giờ phai trong ký ức của tôi. Nó là một biểu tượng rất đẹp của tinh thần tương thân tương ái trong đại gia đình của người Việt. Có lẽ một phần vì hoàn cảnh. Việc bỏ quê hương, dắt díu nhau đi lập nghiệp trong Nam thời ấy đã khiến chúng tôi phải nương tựa vào nhau. Thế nhưng, so với đợt di cư lần hai của dân Việt- đợt ly quốc trong những thập niên 70, 80- mặc dù hoàn cảnh có vẻ khó khăn hơn, hình ảnh đại gia đình Việt Nam ấm át như vậy ở hải ngoại hình như nhạt nhoà hơn rất nhiều.
Cách thức chia thời gian cho gia đình, cho nghiệp văn nghề giáo của bố tôi cũng chẳng có gì là bí mật, đôi khi lại còn không khoa học nữa. Thí dụ có những buổi chiều mùa nghỉ hè, bố tôi bảo mấy anh em tôi có thích đi chơi không? Dĩ nhiên là có rồi ! Bố tôi bèn chở cả đám ra công viên, thả cho chạy chơi đến tối mịt. Bố tôi ngồi hí hoáy ghi chép trong xe, phải đợi bọn tôi nhắc mới chịu về. Sau này, tôi đoán rằng lúc đó bố tôi đang viết văn. Cũng theo cái cách kết hợp như vậy, năm chừng 10 tuổi tôi đã từng theo bố đến ngồi cuối lớp của lớp Đại Học Vạn Hạnh, để nghe
bố tôi giảng bài cho sinh viên. Trong những đợt giao sách, bố tôi chở bọn tôi cùng hàng trăm cây sách đi lanh quanh khoảng năm sáu cửa hàng sách ở Sài Gòn. Mỗi nơi có khi phải đợi tới nửa giờ để bố mẹ tôi giao nhận, tính toán sổ. Mới đầu, bọn tôi cứ thấy được leo lên xe đi ra khỏi nhà là khoái rồi. Sau này phải ngồi chờ trên xe lâu quá, nên bắt đầu chán. Có mấy lần ra xe thấy bọn tôi mặt ỉu xìu, bố tôi phải dỗ dành, “bù lỗ” bằng nhiều cách. Biết làm sao được, nhà đông con mà. Được như vậy đã là một nỗ lực rồi. Tôi vẫn còn nhớ hồi học lớp 2, mỗi học sinh trong lớp phải làm một bộ bảng số có hai ngăn bằng bìa cứng, có các chữ số rời kèm theo. Khi cô giáo ra phép toán trên bảng, học sinh sẽ trả lời đáp số trên bảng này thay vì viết phấn lên bảng con. Tôi vốn rất vụng về nên đâu có thể tự làm được. Đến buổi chiều trước hôm phải có một ngày, tôi lo quá nên khóc lóc cầu cứu bố, mặc dù thực ra bố tôi cũng không hề khéo tay tí nào. Tôi không hiểu bố tôi đã xoay sở như thế nào, mà trong suốt một buổi tối ông loay hoay cắt, dán hoàn thành xong bộ bảng số này. Hôm sau đem nó vào lớp, tôi có thể nhận thấy rằng tấm bảng của tôi thuộc loại “xấu” nhất. Không hề gì, tôi vẫn trân trọng nó lắm. Có cái để học là quá tốt rồi. Bây giờ, khi mình cũng làm bố, tôi mới biết không phải bậc cha mẹ nào cũng sẵn lòng dành thời gian cho con trong những công việc “lặt vặt” như vậy. Những ông bố thì hay có chuyện đại sự để lo. Nếu không thật sự thấy trong những việc chăm sóc cỏn con ấy niềm vui, hẳn các ông bố sẽ có rất nhiều cớ để từ chối làm!
Bọn tôi được bố dạy dỗ, giáo dục ra sao? Tôi không nhớ bố tôi có ràng buộc một qui tắc, kỷ luật rõ rệt nào cho các con. Tôi có một thằng bạn bố là sỹ quan quân đội. Ở nhà đó, không có chuyện con cái trong nhà kén ăn chọn uống. Đến giờ cơm, khẩu phần dọn lên là phải ăn cho bằng hết. Tôi còn biết một ông bố là giáo học , các con đứa nào hàng tháng duới hạng năm thì tự biết sẽ có đòn. Nhà tôi không có những ràng buộc như thế, nên 8 đứa bọn tôi lớn lên hầu như phát triển mỗi người một kiểu, không ai giống ai. Bà chị của tôi học hành rất giỏi ở đại học, nhưng hồi tiểu học từng ở lại lớp. Ông anh tôi từng bị chú K. cảnh cáo vì hồi trung học để tóc dài, hay đua đòi với bè bạn: “Nó mà là con tôi thì đã nát đòn rồi…”. Ấy vậy chứ ngày nay, cả 8 đứa bọn tôi dù không thành công nhưng ít ra cũng thành nhân cả. Bố mẹ tôi
hay bảo đó là do phúc đức ông bà để lại. Tôi tin vào điều này. Nhưng nó không thể giải thích bọn tôi tuy tâm tính, nhân sinh quan rất khác nhau nhưng đều có rất nhiều điểm chung về việc coi trọng chữ tâm. Ai cũng biết đó là ảnh hưởng của bố, nhưng bằng cách nào và tự lúc nào vậy?
Những bài học đạo đức, nhân bản, thiền học… mà chúng tôi nhận được từ bố một cách “có hệ thống” chỉ bắt đầu từ sau khi bố tôi đi cải tạo lần một về vào năm 1980. Đó là các buổi nói chuyện của bố tôi với bọn tôi và một nhóm bạn bè, bọn tôi gọi đó là “đại học bỏ túi”. Đó cũng là cột mốc của một “gia đình” thứ ba của bố tôi. Trong gia đình đó, chúng tôi mới thực sự được nghe bố tôi nói nhiều hơn về điều ông đã viết trong tác phẩm, đã làm trong cuộc sống. Đại gia đình lúc đó của chúng tôi có tên là Hội Ca Cầm. Các thành viên lúc ấy không chỉ gồm gia đình tôi và họ hàng nữa. Anh Hai Lộc, chị Ba Huệ, anh chị Châu…đều biết và thân nhau sau 1975. Chúng tôi đều có một cái tâm trọng nhân nghĩa không muốn bị thời cuộc cướp mất. Thực ra gia đình này được thai nghén hình thành từ năm 1978, người khởi xướng là anh Lộc. Nhưng mãi đến khi bố tôi về, chữ “gia đình” mới trở nên đúng nghĩa hơn vì “có một chỗ dựa tinh thần vững chãi ” như chính anh Lộc đã nói. Chúng tôi đã có những ngày tháng không bao giờ quên với đủ mọi hình thức sinh hoạt “không thức thời”, “không giống ai” vào thời điểm đó: học phật, học nhạc, học cắm hoa, hội họp ca hát văn nghệ, tập và diễn kịch … Gia đình HCC “thế hệ thứ nhất” của chúng tôi chỉ xum họp trong khoảng năm năm, để rồi lại ly tán dần sau năm 1984, khi bố tôi vào tù lần hai. Vào năm 1988, trong bảng cáo trạng đọc tại toà để kết án bố tôi 9 năm tù giam có tội danh ghi rằng: tổ chức “cái gọi là HCC”, hội họp bất hợp pháp để phổ biến nhạc đồi truỵ, phản động…
Sau này, tôi biết được điều mà gia đình HCC đã gieo và gặt được chỉ trong khoảng năm năm ấy lớn hơn tôi nghĩ. Nhiều hơn là một nơi chúng tôi và bạn bè chỉ để xả hơi, giết thời giờ nhàn rỗi. Nhiều người trong đại gia đình này đã xem nó như là một điểm tựa tinh thần để nuôi dưỡng hạnh phúc của gia đình riêng mình. Bản thân tôi đã hình thành nhân sinh quan của mình qua những điều học được từ những người lớn của HCC như bố, anh Lộc.
Từ việc xử thế cho đến cả ý nghĩa của cuộc đời này. Những điều ấy đã là hành trang của tôi từ ngày lập thân, theo tôi trưởng thành và sẽ vẫn là kim chỉ nam của tôi đến cuối đời. Bọn tôi có một người bạn, đã từng đến sinh hoạt văn nghệ với HCC trong khoảng một hai năm. Anh T. đến nhà tôi chơi lại sau khoảng gần 15 năm gían đoạn. Anh T. là chủ tịch HĐQT cùa một công ty trang trí nội thất thành công của Sài Gòn hiện nay. Anh là một trong ít doanh nhân làm nên sự nghiệp cỡ triệu USD chỉ bằng công sức, tài năng của chính mình chứ không phải do sự ưu đãi của chế độ. Anh T. cũng thuộc dạng gia đình “không cách mạng” như bọn tôi. Thật ngạc nhiên, khi anh nhắc đến HCC ngày nào như một trong những cột mốc của cuộc đời của anh, đã góp phần tác động để anh là anh T. của ngày hôm nay chứ không phải ai khác. Ngạc nhiên bởi vì chúng tôi vẫn nghĩ rằng HCC chỉ là một trong những nơi giải trí của anh T., và những thành công của anh chẳng có liên hệ chi đến chúng tôi cả. Một người bạn khác là Kh., hiện là một trong những đạo diễn sân khấu nổi tiếng của Sài Gòn, có tài mà không giàu vì thích nghệ thuật vị nghệ thuật, không thương mại hoá tài năng của mình. Kh. đến dự một buổi dạy cắm hoa và hát hò của bọn tôi vào khoảng trung thu năm 1981. Sau này, khi đã thành danh , K. kể lại mình đã bị “khớp” trong không khí “văn nghệ nghiệp dư” như vậy dù K. lúc ấy đang học ở trường sân khấu chuyên nghiệp. K. không ngờ rằng chúng tôi “dám” có một sinh hoạt văn hoá “cao cấp” như vậy trong cái thời buổi khốn khó, miếng ăn che lấp hết các nhu cầu về tinh thần. Nếu chỉ gặp nhau chỉ để giải trí, giết thời giờ, gia đình HCC của chúng tôi đã không được đánh giá một cách trân trọng như vậy. Càng không phải là do “chơi ngông”, vì ai cũng biết rằng thời đó những sinh hoạt như vậy rất dễ bị chụp mũ cho đủ tội danh, tù tội như chơi! Hiểu theo nghĩa thụ động, đó là một hình thức phản vệ để chống lại khuynh hướng văn hoá độc đoán, khô cằn, duy chủ nghĩa của cả xã hội thời đó. Nhưng cũng có thể xem đó như một cách đối kháng mang tính bất bạo động và có tri thức trước sự áp đặt về tinh thần, theo cách của những “kẻ sĩ” như anh Lộc, như bố tôi.
Nhắc tới chống đối, có một thứ mà rất nhiều người khuyên rằng chúng tôi “phải noi gương bố”, đó là “tinh thần bất khuất trước quyền lực”, hoặc “một trong những biểu tượng của tinh thần
chống cộng của Miền Nam Tự Do”. Các nhà “phê bình văn học” của Việt Cộng đã “tấn phong” cho bố tôi là đầu xỏ của “những tên biệt kích cầm bút”, mô tả ông như một “kẻ căm thù cộng sản đến tận xương tuỷ”. Tôi cũng đã được nghe kể lại nhiều lần từ các bạn bè trong tù của bố về giai thoại về một ông DQS “hiên ngang đối kháng với cán bộ CS trong trại giam”, những câu tuyên bố mang tính “hào hùng, nghĩa khí ” của ông trước “kẻ thù”. Thực hư ra sao cũng chẳng rõ, Chỉ có điều chắc chắn là chưa bao giờ tôi được nghe chính bố tôi kể lại những giai thoại ấy. Tôi đã được nghe chú Duy Trác kể hồi trong tù, chú xách động cả trại chống đối, yêu sách trong một đêm Giáng Sinh. Sau đó bị biệt giam, chú đã đối đáp với cán bộ ra sao để vẫn giữ được khí phách mà không bị “bắn bỏ”. Những câu chuyện của chú Phan Nhật Nam kể về những ngày tháng biệt giam miệt mài của mình còn kinh khủng hơn nhiều. Tôi không thể nào nhớ hết những “cuộc chiến cân não” của chú và cán bộ quản giáo. Có lẽ nó sẽ được ghi lại đầy đủ trong hồi ký của ông. Chú Nam bảo rằng những chuyện kể trong mấy cuốn sách giật giải Nobel văn chương của Nga như Quần Đảo Ngục Tù vẫn còn kém xa so với ở Việt Nam về mức độ khốc liệt!
Kể chuyện trong tù của bố, một trong những kỷ niệm đáng nhớ của tôi là vào năm 1978, tôi vượt gần 1000 km để lên trại Gia Lai thăm nuôi bố tôi lần đầu tiên. Ai cũng nhớ đó là giai đoạn khốn khó nhất của Việt Nam kể từ sau 1975. Người ở “nhà tù ngoài” còn không đủ ăn, phải ăn độn đủ thứ thay gạo mà vẫn đói, thì ở “tù trong” làm sao mà no cho được. Đến giờ này, tôi không thể nhớ mẹ tôi đã chuẩn bị những thứ gì cho bố tôi trong cái giỏ cói thăm nuôi ngày ấy (mà nhớ để làm gì những chuyện như vậy…). Chỉ biết là không nhiều. Một lon guigoz đựng thịt chưng mắm ruốt, vài gói bột ngũ cốc, đại loại là như thế. Một hành trình 7 ngày gian khổ, để hai bố con chỉ gặp nhau khoảng 15 phút. Tôi đến trại vào buổi trưa ngày thứ hai của chuyến đi. Tôi phải ở lại trại tối hôm đó, vì giờ thăm nuôi là đầu giờ sáng mỗi ngày. Sáng hôm sau, tôi cùng những người đi thăm đứng sẵn trong nhà thăm nuôi để nhìn người thân của mình từ trong trại sắp hàng bước ra. Khó mà tả lại được cái cảm giác lúc ấy. Buổi gặp quá ngắn ngủi, chỉ đủ để hai bố con trao đổi những thông tin quan trọng: tình hình những người ở nhau sức khoẻ của bố trong
trại… Sau đó là thủ tục nhận quà thăm nuôi. Anh cán bộ đứng ra kiểm tra từng món trong giỏ cói của bố tôi. Anh ta quyết định bỏ bớt lại một món. Tôi cũng không thể nhớ được lý do tại sao anh ta ra quyết định này, vì đồ thăm nuôi cho bố tôi vốn đã rất ít. Có lẽ qui luật là, bất cứ ai cũng phải bị bỏ lại một cái gì đó, dù đem lên ít hay nhiều! Tôi còn nhớ, phản ứng của tôi lúc bấy giờ là không xin xỏ tay cán bộ ấy cho dù cảm thấy vô lý. Tôi nghĩ rằng đó cũng là thái độ mà bố tôi cũng sẽ làm, thái độ “ắt có” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ “chống cộng hàng đầu”. Thật ngạc nhiên, bằng một thái độ nhã nhặn, bố tôi đã cố giải thích là tôi đã đi rất xa, rất vất vả để lên thăm, số lượng quà đem lên kỳ này cũng ít, và xin cán bộ cho phép được nhận luôn món bị bỏ lại. Cuộc thương lượng đó thất bại. Tôi vẫn phải đem thứ đó về lại Sài Gòn, nặng trĩu trong lòng nhiều hơn là trên tay. Trên suốt quãng đường về, tôi cứ băn khoăn mãi, cứ tự hỏi bố làm như vậy có phải không! Ở tuổi mười sáu của lý tưởng, chưa bao giờ phải đối diện với cái đói thực sự, chưa có bao nhiêu kinh nghiệm trên trường đời, tôi đã chờ đợi bố tôi trong tù với một hình ảnh “bất khuất kinh điển” thường thấy qua sách vở!
Trở lại với cái ngày xét xử bố tôi vào năm 1988 cùng với các cô chú văn nghệ sỹ khác: Hoàng Hải Thuỷ, Duy Trác, Lý Thuỵ Ý, … phiên toà “ DQS và đồng bọn, với tội danh tuyên truyền phản cách mạng, chống phá nhà nước XHCN”. Đó là lần đầu tiên tôi được chứng kiến một phiên toà chuyên chính vô sản của nhà nước Việt Nam. Phiên toà xét xử theo quan điểm của giai cấp chứ không bằng lý lẽ. Ấy vậy mà bà thẩm phán kiêm công tố viên, với “vũ khí giai cấp” trong tay đã phải hết sức vất vả mới chứng tỏ được quyền lực của mình, và đưa phiên toà đến gần tới cái đích mà nó đã được định trước. Theo tôi, bà đã không lường trước được hết tình huống có thể xảy ra, vì bà đã không ngờ là phiên toà “ một chiều” này có thể có phản ứng theo chiều ngược lại. Trong lượt phát biểu ý kiến của mình, bác Thuỷ đầu tiên khẳng định ngay rằng bố tôi không phải là “lãnh đạo”, và những người khác không phải là “đồng bọn”. Văn nghệ sỹ trong Nam tự do về nhận thức, không ai lãnh đạo được tư tưởng của ai, xúi bẩy ai viết theo ý mình cả. Rồi bác giải thích rằng những gì mà bác đã viết và gởi ra nước ngoài đều là sự thực. Vào thời điểm mà phiên toà đang diễn ra, những điều đó đang được các văn
nghệ sỹ của nhà nước viết và phát hành rộng rãi trong nước. Khi bác dứt lời phát biểu bằng câu nói: “chúng tôi chỉ có một tội duy nhất là viết sớm”, cử toạ của buổi xét sử (đa phần là thân nhân của các bị cáo) đã không thể kềm chế được nữa, đồng loạt đứng dậy vỗ tay hoan hô! Bà thẩm phán khốn khổ đã phải đập búa, yêu cầu công an bảo vệ với súng ống trong tay lập lại trật tự. Chú Duy Trác, vốn là một luật sư, đã trình bày hết sức có hệ thống, hợp lý, thuyết phục dựa trên công pháp quốc tế, dựa trên chính những điều mà luật pháp của chính quyền XHCN Việt Nam công nhận để bào chữa cho mình và cả nhóm. Bà thẩm phán đã không thể bác bỏ được những lý luận ấy. Bà chỉ cố bám lấy những dữ kiện mà đã có trong bản cáo trạng, và lái mọi câu trả lời vào những tội danh đã được chỉ ra. Điều mà tôi muốn nói ở đây là phần phát biểu của bố tôi kém “hùng hồn” nhất, và cũng không chặt chẽ về mặt luật pháp. Bác Thuỷ rất có lý khi đã khẳng định rằng bố tôi không thể là lãnh đạo của nhóm được. Những ai chờ đợi hình ảnh một ông DQS hào hùng, bất khuất có lẽ sẽ thất vọng trong phiên toà này.
Những điều mà chính tôi được chứng kiến như đã kể trên đã giúp tôi điều chỉnh lại chính xác hơn những “truyền thuyết, anh hùng ca” về bố mình. Bố tôi không kể cho chúng tôi nghe những chuyện đối kháng với kẻ thù, có lẽ vì ông không phải là con người của tranh đấu, đối đầu. Cũng có thể là vì ông không có một “kẻ thù cá nhân” nào rõ rệt. Trong một truyện viết về những ngày tháng trong tù, bố tôi nhắc đến anh cán bộ quản giáo với một hình ảnh con người đáng tội nghiệp. Anh ta cũng đang xa gia đình. Anh ta cũng mong ngày về như những tù nhân của mình mỗi độ xuân về…Bố tôi căm thù cái phi nhân của một chủ nghĩa, sự ngu dốt và độc đoán của một tầng lớp lãnh đạo. Bố tôi không nhắm vào những cá nhân thừa hành bên dưới, vì họ cũng chỉ là nạn nhân của sự bưng bít, thiếu kiến thức, thiếu thông tin, thiếu sự lựa chọn. Điều đó thể hiện trong nếp sống thường ngày. Tôi không nhớ được bố tôi ghét ai đó theo kiểu “xúc đất bỏ đi” cả. Cho dù ở hoàn cảnh nào, ông đều tìm ra được một nguyên nhân để cảm thông với người mình không thích. Có lẽ vì thế mà bố tôi trông “giống” với một nhà giáo hơn là một văn nghệ sỹ. Trong cuộc sống gia đình, trong giao tiếp xã hội, hình ảnh đậm nét nhất của bố tôi vẫn là một ông giáo sư, một cư sỹ Phật Giáo.
Điều này càng thấy rõ hơn trong những năm tháng sau này, khi bố tôi bắt đầu buông xả chuyện thế sự, quên bớt những biến cố trong đời để sống thảnh thơi với gia đình, con cháu. Bố tôi quên nhiều thứ, khá im lặng trong giao tiếp hàng ngày. Nhưng ông lại thật sự linh hoạt, dí dỏm khi gặp các đồng nghiệp, học trò của mình trong nghiệp giáo. Những lúc ấy, tôi thấy bố tôi như trẻ lại. Bên cạnh gia đình tôi, có lẽ đó là gia đình gần gũi nhất của bố tôi về mặt tinh thần: gia đình sư phạm. Ở “gia đình” thứ tư này của bố, tôi học được rất nhiều về hai chữ lễ nghĩa, cho dù tôi không phải là học trò của bác Linh, bác Bửu- những đồng nghiệp của bố- hoặc của anh Tín, anh Khuê- thế hệ học trò của bố và cũng từng là nhà giáo. Tôi nhớ những năm tháng bố tôi còn ở trong tù, cứ vào những dịp mẹ tôi chuẩn bị đi thăm nuôi bố tôi như dịp lễ tết, các bác và các anh lại đến. Họ đến thăm hỏi tình hình sức khoẻ của bố tôi trong tù, sau đó lại gởi ít quà, hoặc tiền để phụ giúp gia đình trong công việc chăm sóc bố tôi. Nhà tôi nhận được rất nhiều sự trợ giúp tương tự như vậy, nhưng chính cái “cách cho” của gia đình sư phạm là điều mà tôi nhớ mãi. Dù người nhận quà là mẹ hay chị tôi, các bác và các anh chị đều đứng lên, trịnh trọng trao quà kèm với lời chúc bố tôi khoẻ mạnh, mau về…Cả thầy lẫn trò lúc ấy tóc đều đã bạc. Nhiều người cũng chẳng còn cầm phấn từ lâu… Ở cái thời buổi mà lễ nghĩa liêm sĩ mai một, không có tôn sư trọng đạo, sở giáo dục dự định cho phép học sinh phê bình góp ý với thầy cô của mình, tôi không cầm được nước mắt khi nhớ về những hình ảnh đó. Nó là mẫu mực của tôi về một thế hệ giáo dục của Việt Nam trước 1975, giống như hình ảnh ông đồ già đại diện cho một thế hệ Nho học trước đó. Tôi nhớ những lúc bác Linh rủ bố tôi ngồi uống cà phê cóc ở lề đường trường Cao Đẳng Sư Phạm, tôi nhìn hai ông già ấy và tin là mình vẫn nhận ra họ như những nhà giáo thực sự giữa muôn vạn con người trong xã hội. Phong thái mới là cái làm cho họ “giống như nhà giáo”, chẳng cần phải cầm phấn đứng trên bục giảng. Những anh chị trong thế hệ học trò cũng vậy. Tôi cũng từng tham dự những buổi nhậu nhẹt với các anh. Những câu chuyện tầm phào trên bàn nhậu của các anh cũng khác. Có một chút hoài niệm, một chút sỹ khí. Một chút chua chát của những kẻ sỹ không gặp thời. Một chút khôi hài dí dỏm nhiều ẩn dụ… những thứ như vậy tôi rất ít tìm thấy ở thế hệ sau này. Tôi thông cảm được những nỗi niềm ấy, nên tự cho rằng mình cũng thuộc thế hệ của quá khứ…
Chuyển cách nhìn bố tôi hiền hoà, an nhiên hơn như một nhà giáo, một cư sĩ Phật giáo thay vì là một nhà văn, một biểu tượng chống cộng … giúp tôi giải thích được cách mà bố tôi giáo dục chúng tôi, hay cảm hoá người khác trong cuộc đời. Cách mà bố tôi đã trở thành ông Doãn Quốc Sỹ của “một cộng đồng người Việt” ngày hôm nay. Bố tôi là một ông giáo hiền lành, một con người nhân hậu vì bản chất của ông là như vậy. Nhưng sức mạnh của ông bắt nguồn từ chữ TÂM. Khi cái tâm đã toả sáng vì nó đã biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu, nó bắt đầu thoát ra khỏi sự sợ hãi. Đó là điều kiện kiên quyết để có một cái tâm tự do. Sức mạnh tâm linh của một cá nhân sẽ nhờ sự tự do mà tự toả sáng, không cần ngôn từ, không cần chứng tỏ. Bố tôi đã dạy cho tất cả chúng tôi ngồi thiền để tốt cho sức khoẻ, để luyện tâm thanh tịnh. Bố tôi ngồi thiền rất đều. Có một điều tôi biết là bố tôi ban đầu không đặt quá nhiều mục tiêu trong thiền tập, ví dụ như: “bản lai diện mục”, hay “giải thoát” chẳng hạn. Bố tôi rất thích phương pháp bắt đầu thiền tập của Thầy Nhất Hạnh trong cuốn sách “ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức”. Hãy khởi đầu với mục đích đơn giản là tìm lại hạnh phúc của chính mình, qua sự ý thức rõ rệt về sự hiện diện của mình. Tuy nhiên, khi mà tâm đã an tịnh rồi, cái thấy của tuệ giác sẽ tới mà không cần vọng động . Buông xả là cái mà bố tôi nhắc nhở rất nhiều trong đời. Có lẽ chính nó lại là nguồn gốc của những cái “có được” của bố tôi, vì nó cho cái tâm sức mạnh của sự tự do. Chữ “NHÂN” của bố tôi từ đó mà toả sáng, giản dị, không ồn ào. Không thấy cái “tôi” của bố trong chữ nhân đó, nhưng ai cũng nhìn thấy nó qua cuộc đời của ông. Mọi người thân hay cho thí dụ về bố tôi đã từng sống “nhân ái” ra sao, chứ không trích dẫn trong tác phẩm của ông đã luận về chữ NHÂN như thế nào. Chú Nguyễn Đình Toàn đã từng nói với bọn tôi rằng: “trong giới văn nghệ sỹ, không ai phục ai về tài viết văn cả. Nhưng nhiều văn nghệ sỹ trong Nam quí mến bố cháu ở cái đời sống đạo đức của ông”. Đối với con cái cũng vậy, chúng tôi được dạy dỗ bằng chính cách sống của bố, chứ không bằng những “phương pháp giáo dục” . Theo cái cách mà thầy Nhất Hạnh ví von: khi có một vị Phật ra đời, thì cỏ cây xanh
hơn, nước sông trong hơn. Bố tôi tuy chưa là Phật, nhưng cái nhân của ông cũng đã “cảm hoá” chúng tôi phần nào.
Khi cái tâm ấy phải đối chọi với nghịch cảnh, những quyền lực phi nhân muốn chế ngự nó, nó sẽ không tìm cách đối chọi để chiến thắng. Cái tâm của bố tôi vẫn chỉ là chữ nhân hiền hoà đó. Người ta không thắng được nó bởi vì nó tự do. Nó vượt qua , không đầu hàng cái xấu vì nó không sợ hãi phải mất đi một cái gì nếu mình không khác đi. Không có đối kháng. Nhưng mạnh mẽ và tự tin. Hồi bố tôi chuẩn bị xét xử lần thứ hai vào năm 1988, bạn bè khắp nơi trên thế giới đã vận động mạnh mẽ đên nỗi chính quyền Việt Nam phải hoãn xét xử vào giờ cuối để tìm cách giảm nhẹ tình hình. Để tránh mất mặt khi phải đổi giọng, Đảng và Nhà Nước đã phải cử ông chú tôi làm trung gian vào tù thương lượng, đề nghị bố tôi nhượng bộ bằng cách tỏ vẻ “ăn năn” để được “khoan hồng”. Tất nhiên là cuộc thương lượng đó bất thành, họ đánh giá bố tôi quá thấp! Điều đáng kể ở đây là thái độ của bố tôi trước biến cố này. Lọt vào tay “chủ nghĩa anh hùng cách mạng”, đây ắt hẳn sẽ trở thành một câu chuyện li kỳ về “tấm gương đấu tranh bất khuất, một cuộc chiến không khoan nhượng giữa hai anh em hai chiến tuyến…” Lần duy nhất bố tôi nói về nó là do tôi hỏi và bắt bố tôi kể lại. “ Có gì đâu, chú đề nghị bố xin lỗi. Giống như sau khi mình tát ai một cái thì mình cũng phải tỏ vẻ ân hận một chút. Nhưng đời nào bố lại làm vậy…” Bố tôi chỉ vắn tắt có bấy nhiêu! Điều đó làm tôi nhớ đến một hình ảnh trong thiền mà bố tôi hay sử dụng: hồ nước trong như một tấm gương. Một cánh chim bay ngang qua, hồ nước in hình nó. Chim bay đi rồi, thì hồ nước lại trong vắt như tự bao giờ…
Cái tâm buông xả ấy đã giúp bố tôi vượt qua bao nhiêu chướng ngại của cả một đời sóng gió. Bây giờ nó lại đưa ông ra khỏi những ưu tư, phiền muộn của một kiếp người trong những năm tháng cuối đời. Bây giờ đã tám mươi, bố tôi quên hết bao nhiêu chuyện thăng trầm, chuyện tù tội, chuyện quốc gia đại sự, chuyện thù ghét… Bố tôi bây giờ là ông nội mỗi khi bé Vịt, bé Đan ở bên cạnh ông tại ngôi nhà Houston. Bố tôi là độc giả của chính những tác phẩm ngày xưa do mình viết ra, ông đọc lại mà vẫn thích thú theo dõi diễn tiến câu chuyện như chưa từng viết
nó. Ông cũng sẽ là thành ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ ngày nào, mỗi khi có nhóm cộng đồng người Việt mời đi tham gia một hoạt động văn hoá. Nhưng sau đó, thì “mặt hồ nước lại trong vắt như tự bao giờ, khi cánh chim đã bay qua…”. Tôi rất thích câu hát trong đoạn cuối của bài Rong Khúc của nhạc sỹ Phạm Duy:
“…Ta vứt sau ta những nẻo đường trần,
Ta vút bay theo những nẻo đường tiên,
Nhưng nếu mai sau ai gọi người tình,
Anh sẽ quay lưng bước vào nẻo xanh”…
Phạm Duy cũng như bố tôi là một trong số những người đã trở thành chứng nhân lịch sử của toàn bộ cuộc biển dâu của dân tộc Việt trong 60 năm qua : cuộc kháng chiến chống Pháp. Những năm đất nước chia đôi, người Việt ly hương lần đầu. Chiến tranh Nam Bắc. Những ngày đất nước tang thương trong sự cai trị của chính quyền CSVN sau 1975. Người Việt rời bỏ quê hương ra đi, tạo nên một cộng đồng người Việt tha hương khắp nơi, như một bộ phận không thể tách rời của mảnh đất hình cong chữ S này và những người ở lại… Ôi, thế hệ đã khóc cười theo vận nước nổi trôi ấy sau cùng cũng đã sẵn sàng vứt bỏ chuyện đời phù du để thảnh thơi đi vào cõi chung. Có điều Phạm Duy là một nghệ sỹ thực sự. Tình yêu con người và cuộc sống của ông nồng nàn đến độ ta nhận thấy rằng nhạc sỹ vẫn còn lưu luyến nhìn lại.
Còn bố tôi …
Dòng sông định mệnh của bố đã ra đến biển khơi rồi, có còn khúc quành nào nữa đâu mà lưu luyến, phải không bố ơi…
Sỹ Tâm con ơi, bố chỉ định viết về ông nội của gia đình. Thế mà con thấy đó, ông nội có đến ít nhất những bốn “gia đình”để thương yêu, chia xẻ. Khi mình đã xoá bớt những rào cản giữa cái tôi của mình và thế giới còn lại, thì cái tâm cùa mình sẽ rộng mở. Tình yêu trong ta cũng sẽ bao dung hơn. Dù muốn hay không, ông nội không còn là của riêng của gia đình mình nữa rồi. Ông nội là người của cả một cộng đồng người Việt. Cũng vì chữ tâm mà thôi. Chữ tâm là cái quan trọng nhất khi mà con muốn tóm tắt về cuộc đời của ông nội mình.
Con có biết không, viết về cái tâm là cái khó nhất, vì bố cũng chỉ là người đang đi tìm. Viết về cái tâm của một người khác, nhất là của một người nổi tiếng như ông nội, lại còn khó hơn nữa. Có điều bố vẫn viết được, vì cái tâm của ông nội không nặng cái “tôi” riêng. Đó là chữ tâm của chung cho cả nhân loại, của những ai biết buông xả để đi tìm gặp. Chữ tâm ấy nằm sẵn trong bố, nằm sẵn trong con tự lúc mới ra đời rồi. Bố viết về tâm của ông nội cũng như đang đi tìm tự tâm của mình vậy.
Bố viết cho con những dòng này, để sau này khi con lớn lên, con nhận thức được rằng mình đã được thừa kế một gia sản rất lớn về chữ tâm đó. Nó sẽ là hành trang, nhưng cũng chính là đích đến của cuộc đời con …
Tháng 4 –2002
Bố Hưng
Doãn Quốc Hưng
Houston 10-2006

#9 hutieudai

hutieudai

    Ác Mìn Xạo Ke

  • Admin Team
  • PipPipPipPipPipPip
  • 3,395 posts
  • Gender:Not Telling
  • Location:Lôi Kinh

Posted 02 June 2012 - 06:25 AM

Khâm phục TA chia sẽ những tâm tình ngắn gọn nhưng nồng nàn về DQS, htd ít khi có dịp đọc :thanks:




0 user(s) are reading this topic

0 members, 0 guests, 0 anonymous users